« Trước | Sau»

01.01.10

Cổ học tinh hoa - 243 câu chuyện giáo dục (Tập cuối = Tập 12)

Post in Chung at 18:19 :: 點閱次數 (494)

 

239. Bắt thay chiếu

Tăng Tử bệnh nặng. Những người chầu chực hầu hạ, học trò thì có Nhạc Chính, Tử Xuân, ngồi ở cạnh giường, con thì có Tăng Nguyên, Tăng Nhân ngồi ở dưới chân, lại có một tên đồng tử đứng một góc cầm nến.

Tên đồng tử hỏi:
Cái chiếu đẹp đẽ và bóng bẩy này là thứ chiếu quan đại phu dùng chăng?

Tử Xuân bảo:
Im chớ nói.

Tăng Tử nghe tiếng giật mình, thở dài.
Đứa đồng tử lại hỏi:
Cái chiếu đẹp đẽ và bóng bẩy này là thứ chiếu quan đại phu dùng chăng?

Tăng Tử đáp:
Phải. Cái chiếu ta nằm là chiếu của Quý Tôn làm quan đại phu nước Lỗ cho ta. Ta chưa kịp thay đấy.

Rồi gọi con sẽ bảo:
Nguyên kia, đứng dậy thay chiếu cho ta.

Tăng Nguyên nói:
Bệnh cha nguy, không dám khinh động, xin để đến sáng sẽ thay.

Tăng Tử nói:
Con yêu cha không bằng tên đồng tử. Người quân tử yêu ai, yêu một cách phải đường, người thường yêu ai, yêu một cách nộm tạm cẩu thả. Như ta bây giờ còn mong gì nữa. Nếu ta được chết một cách chính đính, khỏi mang tiếng phi nghĩa, là đủ cho ta rồi.

Con cái và học trò nghe nói, xúm lại vực Tăng Tử lên để thay chiếu.
Tăng Tử vừa nằm yên vào chiếc chiếu mới thì mất.

Lễ Ký.

Lời bàn: Người ta đến chết là hết. Cho nên trước cái chết, tưởng ai cũng bằng đẳng như ai không còn phân biệt tôn ti, thượng hạ gì nữa. Tuy vậy, thầy Tăng Tủ dù biết chết đến nơi, cũng còn thao thủ, không muốn việt phận, không chịu đeo tiếng phi nghĩa, thế mới hay cổ nhân lập chí, thường vạch một con đường quang minh chính đại để suốt đời noi theo dù đến hơi thở cuối cùng, mà vô ý lỡ đi sai, cũng nhất quyết không chịu. Cách thay chiếu đây lại còn đáng làm gương cho lắm kẻ đời nay, quên cả phong hóa, bỏ cả lễ nghĩa, lúc ma chay tiếm lạm nhiều cách, chỉ chuộng cái thói cái danh phận của người chết đáng vào bậc nào nữa. Những con cháu tống táng ông cha theo sự phù hoa mà phạm vào điều phi nghĩa, thì còn gọi được là con cháu có hiếu không?

" Quân tử chi ái nhân đã dĩ đức, tế nhân chi ái nhân đã dĩ cô tức", câu di ngôn của thầy Tăng Tử thực là câu danh ngôn có chi lý vậy.


240. Đám ma to

Trang Tử sắp chết. Học trò bàn nhau định muốn làm ma to.
Trang Tử thấy vậy bảo:
Ta lấy trời đất làm quan quách, mặt trời, mặt trăng làm hai viên ngọc bích, các ngôi sao làm các hạt châu báu, muôn vật làm đồ tống táng, đám ma ta như vậy, há chẳng đủ rồi, cần gì mà phải làm cho to nữa.

Học trò nói:
Nhà thầy làm như vậy, chúng con sợ diều hâu, quạ nói rỉa thịt nhà thầy mất!

Trang Tử bảo:
Xác người chết mà để trên đất thì diều quạ ăn, để dưới đất thí sâu bọ ăn. Bây giờ cướp của loài kia cho loài này, tâm sao mà thiên như thế? Tâm người đã thiên, thì bất bình đem cái bất bình mà cho là bình thì cái bình không phải là bình nữa. Tâm người không sáng thì chẳng thật, đem cái chẳng thật mà cho là thật thì cái thật không còn là thật nữa.

Ôi! Người ta cứ khăng khăng giữ một ý kiến, chẳng cũng đáng thương lắm ru!

Trang Tử

Giải nghĩa:
- Tống táng: tống : đưa, táng: chôn.

- Thiên: chênh lệch về một bên nào.

- Bất bình: lệch về một bên không được bằng phẳng.

Lời bàn: Thầy sắp chết mà học trò định làm ma to cho thầy, thế là trung hậu mà là thường tình. Thầy gạt đi chỉ muốn như bỏ xác ra ngoài núi, thế là có ý tự nhiên cao thượng hơn đời. Học trò bảo không nỡ để cho quạ mổ, diều tha thịt thầy thế là chỉ biết những điều trước mắt có thể trông thấy mà thôi. Có biết đâu cái xác kia, khi vùi xuống đất, dù cho đào sâu, chôn chặt thế nào trong quan quách dù cho chắc chắn đến đâu cũng không khỏi được cái giống sâu bọ, vi trùng **c rữa làm cho tan nát quá ư là mỏ quạ, mỏ diều vậy. Ôi! Trang Tử lúc gần chết còn dạy học trò như thế, thật là bình tâm sáng suốt hiểu thấu cái lẽ sinh, tử, tồn, vong tức như bây giờ ta nói hiểu rõ chân lý, hiểu như khoa học rất hợp với cái học thuyết cao viễn của Trang Tử vậy.

241. Muôn vật một thể

Trời là cha, đất là mẹ chúng ta được cái khí trời đất mới thành ra người. Ta nghĩ thân ta thật là nhỏ mọn mà được ở trong vòng trời đất, to lớn bao la. Cái khí của trời đất tức là hình ảnh của ta, cái lý của trời đất tức là tính của ta.

Người ta với muôn vật cùng sinh ra ở trong trời đất, thế thì cái gì có hình đều là khí của trời đất, cái gì có tính để là lý của trời đất. Vậy người với người là đồng loại, thời ta coi nhau như anh em ruột cả. Trong vạn vật, giống hữu tri, giống vô tri so với người tuy khác, song cũng tự trời đất sinh ra, thì ta cũng coi như một bọn với ta cả.

Phàm người trong trời đất đã là con trời đất hết, thì vua, ta coi như người anh cả, đại thần, ta coi như người giúp anh cả, cụ già ta kính, là cốt quý bậc tôn trưởng ta, trẻ bé ta thương, là cốt yêu đàn con trẻ ta, bậc thánh là anh em ta mà giống cha mẹ ta, bực hiền là anh em ta mà giỏi hơn ta, còn những người ốm đau, tàn tật, cô độc, góa bụa đều là anh em ta mà vất vả khổ sở, không biết nương tựa vào đâu vậy.

Trương Hoành Cừ.

Giải nghĩa:
- Khí: vật hơi vô hình, đời cổ cho muôn loài bởi đấy mà sinh hóa ra.

- Lý: cái lẽ cường kiện( mạnh mẽ) của trời nhu thuận( mềm mỏng êm ái) của đất.

- Đồng loại: cùng một loài.

- Giống hữu tri: giống có biết, có càm giác như chim muông...

- Giống vô tri: giống không biết, không có cảm giác như cây cỏ, đất, đá.

- Đại thần: quan to, đây nói ông tướng giúp vua trị dân.

- Cô độc: cô: mồ côi, không cha không mẹ một mình không con cái.

- Trương Hoành Cừ: tức là Trương Tái, người đời nhà Tống, trước có làm quan, sau về dạy học, ông là một nhà học giả giỏi có tiếng đời bấy giờ, có làm sách Chính Mông và Đông Minh, Tây Minh. Bài này trích ở trang Tây Minh

Lời Bàn:
Ta xem bài này, hãy gác cái thuyết trời đất và khí lý ra ngoài, vì chưa thể nói rõ cái thuyết ấy cho đúng với khoa học tiến bộ này. Ta chỉ nên nhận tác giả nhân cái khởi điểm khí, hình, lý, tính ấy mà cho muôn vật ở đời cùng chung một gốc tích, cùng bẩm thụ của một cha mẹ là trời đất. Câu nói ấy thực là rõ cái nghĩa "vạn vật nhất thể" có cái lòng bác ái vậy. Riêng trong nhân loại, tuy có chia ra tôn ti, lão ấu chí thành, chí ngu, nhưng cũng là một loài người cả, thì nên coi cả trong nước như một người, cả thiên hạ như một nhà, kính nhường, yêu, thương nhau, giúp đỡ, đùm bọc nhau. Còn các giống động vật khác cùng thực vật, khoáng vật, hết thảy giống hữu tri vô tri đều là cùng ta ở trong trời đất cả. Ước ao cái học thuyết này một ngày một lan rộng ra, thì phúc cho loài người và thỏa cho cái hi vọng cổ nhân lắm.


242. TỰ TỈNH


Người ta, tối đến, trước khi đi ngủ thử kiểm xét xem trong một ngày:

Ăn ở với cha mẹ đã hết lòng chưa?
Đối đãi với kẻ dưới đã hay thể tất chưa?
Xử với anh em đã hay hòa thuận chưa?
Đối với vợ con đã hay yêu quý chưa?
Chơi với bạn bè đã hay tránh kẻ dở, gần người hiền chưa?
Nói ra câu gì, đã hay không thẹn với lương tâm chưa?
Làm công việc gì, đã hay không trái với lương tâm chưa?
Đãi người ngoài đã hay không thất lễ chưa?
Hết thảy việc gì, việc gì cũng nghĩ để xử cho chu đáo, ngõ hầu mới xứng đáng làm người mà không xấu hổ.

Từ Mi Vân

LỜI BÀN

Bài Tự Tỉnh của Mi Vân đây cũng tương tự như bài Kiểm soát lương tâm của Franklin. Trong bài nói thiệp liệp đủ cả trong nhà thì cha *** vợ con, anh em, tôi tớ, ngoài thì bạn bè, thiên hạ kịp đến cả câu nói việc làm. Nghĩa là đủ cả mọi hạng người mình giao tiếp hàng ngày, mình có bổn phận phải giữ cho trọn vẹn cùng những việc suy nghĩ, nói năng, hành động nữa. Nếu trước khi đi ngủ, ai ai cũng chịu kiểm soát lại lương tâm mình như thế cả, để sửa đổi lại tính mình cho hay hơn lên, thì lo chi đời hiếm người tốt mà xã hội ngày không một bước gần đến nhân đạo, nhân loại mỗi ngày không tiến mãi đến hạnh phúc được.

243. NGU CÔNG DỌN NÚI

Phía nam Châu Ký, có hai quả núi Thái Hàng và Vương Ốc to bảy trăm dặm, cao muôn thước, cây cối rậm, ác thú nhiều, đi lại khó.

Ở chân núi có một cái nhà của ông lão tên là Ngu Công, tuổi đã chín mươi.

Ngu Công thấy vì núi mà nhà ở chướng ngại, đường đi bất tiện, lấy làm bực tức. Một hôm cụ họp cả vợ con, người nhà lại bàn rằng:
- Ta muốn cùng lũ ngươi hết sức bạt phẳng hai quả núi này thì có nên không?

Ai nấy đều thuận. Chỉ có người vợ ngần ngại, hỏi vặn rằng:
- Sức ông không bạt nổi một cái gò, thì làm thế nào bạt được những hai quả núi? Mà dù cho có sức bạt được nữa, thì đất đã định đem đổ đi đâu?

Ngu Công nói: Khuân đem đổ ra bể Đông.

Đoạn Ngu Công đem con cháu cùng cả họ ra phá núi, kẻ **c đá, người đào đất, kẻ đầu đội, người vai mang, hết ngày này sang ngày khác. Láng giềng có đứa bé mới tám tuổi, con người đàn bà hóa cũng xin đi làm giúp, hàng năm mới về một lần.

Gần miền có một ông lão khác tên là Trí Tẩu thấy vậy, cười Ngu Công và can rằng:
- Sao khờ dại vậy! Mình thì tuổi tác, núi thì cao lớn, phá thế nào nổi!

Ngu Công thở dài nói:
- Ngươi không bền lòng. Bền lòng thì việc gì cũng phải được. Ngươi không bằng người đàn bà hóa, đứa trẻ con thơ. Ta già ta chết đã có con ta. Hết đời con ta, đã có cháu ta, hết đời cháu ta đã có chắt ta, con con cháu cháu sinh hạ vô cùng mà núi thì bao giờ cũng vậy, lo gì không bạt nổi.

Trí Tẩu nghe nói, nín lặng, không trả lời.

Sau này vùng nam Châu Ký không có núi non chướng ngại, đi lại thuận tiện là nhờ có Ngu Công.

Liệt Tử

GIẢI NGHĨA

Ký: một châu của chín châu đời cổ, tức là vùng Trực Lệ, Sơn Tây cùng phía Bắc sông Hoàng Hà, tỉnh Hà Nam, phía tây sông Liêu Hà, tỉnh Phụng Thiên.

LỜI BÀN

Ta không tưởng tượng rõ núi Thái Hàng và núi Vương Ốc to lớn thế nào. Ta chỉ biết ở cái đời Ngu Công bấy giờ chưa có máy móc tinh xảo như bây giờ mà đã bạt được núi thì giỏi thật. Lại không phải thuê từng hàng nghìn vạn người để làm, chỉ người trong một nhà, một họ và ít người lân cận giúp tay vào mà cũng làm nổi. Ôi! Nếu quả như vậy, thì cái gương kiên nhẫn của Ngu Công thực đáng để truyền lại mãi cho muôn đời về sau này. Vả chăng chỉ một câu Ngu Công nói với Trí Tẩu cũng nên ghi nhớ lắm. Sự kiên tâm không phải chỉ hạn chế trong một đời, nhưng cứ tiếp luôn đời ấy, đời khác theo đuổi mãi thì ở đời còn có cái gì gọi là khó được nữa. Ngu Công đây thật là người đại trí nhược nhu (người cực khôn, bề ngoài coi như ngu). Ngôn hành ông y như những câu sau đây cũng đều có ý khuyên chúng ta lập chí và kiên tâm để làm việc:

1) Trên đời chả có việc gì khó, chỉ tại tâm người ta không kiên nhẫn mà thôi.
2) Bí quyết thành công cốt ở nhất định không thay đổi mục đích.
3) Đã có cái kiến thức can đảm phi thường, nhất quyết làm được sự nghiệp phi thường.
4) Đem sự hiểu biết tinh tường, dùng hết tâm trí bền bỉ, vận toàn lực tinh tiến vô cùng, thì có việc gì mà không làm được. Người ta sống một cách nay lần mai nữa, suốt đời không được việc gì, chỉ tại không có chí.
5) Ý chí kiên nhẫn có thể chinh phục được hết thảy các thứ tự nhiên trong vòng trời.

***

                *****Cuốn Cổ học tinh hoa này làm năm 1925. Năm đó, ở ta đã bỏ thi chữ Hán cả chục năm rồi. Hán học bắt đầu tàn. Các cụ Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, soạn giả cuốn sách này, thuộc thế thệ những " ông đồ" lỡ vận đó. Cụ Nguyễn Văn Ngọc mất đã lâu (1942), còn cụ Trần Lê Nhân tôi vẫn còn được gặp những năm sáu mươi ở Hà Nội. Yêu mến tinh hoa của nền văn minh Hán học, từ trong cái biển bao la của bách gia chư tử Trung Hoa xưa, hai cụ đã tìm lấy những hạt ngọc của văn chương, triết học và xâu thành một chuỗi ngọc đem hiến cho đời. Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, cuốn sách hầu như vẫn giữ nguyên giá trị. Đọc lại cuốn sách, ta sẽ có cảm giác gặp lại một người bạn cũ. Mỗi cuốn sách có số phận riêng của mình, đó là một câu châm ngôn la tinh. Cuốn Cổ học tinh hoa cũng có số phận của nó. Đó cũng chính là số phận của triết học và văn chương phương Đông cổ mà ít lâu nay, do sự cất mình của các "con rồng" châu Á, dường như mọi người đang để tâm tìm hiểu.
Các nhà nghiên cứu phương Đông của thế giới, trong đó có các học giả Pháp, Mĩ và cả Liên Xô nữa, nay đều thấy tác dụng của Không giáo đối với sự phát triển kinh tế của nước Nhật. Đối với người Nhật hay đối với một số nước mà họ gọi là " Hán hóa" khác (trừ Việt Nam) thì truyền thống đã không cản trở sự phát triển, trái lại các nước ấy đã biết biến truyền thống thành một thứ " mùn" để ươm trồng lên đó những cây cố tươi tốt. Cái ông Khổng Tử mà bào lâu nay người ta nguyền rủa, người ta đấu tố (chúng ta vẫn nhớ những đợt "phê Lâm đấu Khổng" trong cách mạng văn hóa ở Trung Quốc vừa đây), hóa ra không đến nỗi tệ như thế! Hồi năm 1965, vào ngày 19-5 ngày sinh của mình cụ Hồ có đi thăm quê hương Khổng Tử. Và có bài thơ chữ Hán ghi lại cảm xúc, xin tạm dịch:

Mười chín tháng năm thăm Khúc phụ
Thông già miếu cũ dấu xưa nhòa.
Thế thần họ Khổng giờ đâu nhỉ?
Leo lét bia xưa chút ánh tà.

Nguyên văn:
Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc phụ
Cô tùng cổ miếu lưỡng y hi.
Khổng gia thế lực kim hà tại?
Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi.

Dương như có chút cảm thương, hoài cổ bằng bạc trong bài thơ. Mà thực ra. Khổng Tử nào có tội tình gì? Ông ta là một gương mặt tiêu biểu của triết học Trung Hoa xưa, một nhà nhân văn một nhà triết học lớn. Các triều đại phong kiến lợi dụng học thuyết của ông, xuyên tạc cái "bản lai diện mục" của ông... thế thôi.

Nhưng ngoài Khổng Tử, còn có bao nhà triết học khác. Một điều mà các học giả thế giới lưu ý, là chữ Hán, thứ chữ lâu nay ta bỏ xó, lại là một công cụ rất tốt của tư duy, một thứ chữ làm thông minh người học nó ( và điều này họ đã có thì nghiệm), một thứ chữ của tương lai, của thời đại điện toán! Chỉ tội nghiệp các cụ đồ trong thơ Vũ Đình Liên, trong đó có cụ Trần Lê Nhân và bao nhiêu cụ khác, những bậc túc nho đáng kính nhưng sinh bất phùng thời!

Đến hết thế kỉ này thì tổng sản phẩm kinh tế của các nước gọi là Hán hóa sẽ vượt Tây Âu, vượt Mĩ! Mà sở dĩ có thế một phần là nhờ như ở Nhật - theo lời một nhà bác học Liên Xô - họ giữ lại thành phần chữ vuông ( chữ Hán) trong văn tự của mình! Thật là một " chuyện" như đùa! Nhưng không, các học giả này nghiêm túc đấy! Liệu sau này chúng ta có sửa đồi gì được cái định kiến ngốc nghếch của chúng ta về Hán học, và nói chung về nền văn minh phương Đông mà chúng ta " bụt chùa nhà không thiêng", chúng ta quá coi thường. Cuốn sách này được in lại, biết đâu là để sửa lại đôi chút sai lầm tai hại ấy.

                     ***** Trước khi là một tuyển tập những đoản văn triết học. CỔ HỌC TINH HOA là một cuốn sách của những câu chuyện thường ngày mà chúng ta hằng quan tâm đồng thời cũng là cuốn sách của những vấn để đạo đức muôn thuở. Thời đại chúng ta dầu khác biệt bao nhiêu đi nữa nhưng phải đâu những câu chuyện của cái thời thơ ấu ấy của nhân loại không còn làm chúng ta thú vị.

Mà trong cuốn sách này có biết bao nhiêu thú vị như thế! Chuyện ống Tử Lộ ăn ở có hiếu với cha mẹ " ngày trước lúc song thân còn, cơm thường dưa muối, đường xa trăm dặm, phải đội gạo về nuôi song thân"... - cái ông Tử Do mà Khổng Tử cho là " hiếu dũng" ấy, sao " người" đến thế! Chuyện tình bạn giữa Quản Trọng- Bảo Thúc: "sinh ta ra là cha m ẹ biết ta là Bảo Thúc" là chúng ta suy ngẫm về trạng thái nhân thế của xã hội đời nay! Chuyện người vợ chê anh chồng đánh xe ngựa cho tể tướng mà vênh váo, bị chị vợ giảng cho một bài học thấm thía, chuyện " chính sách tàn bạo khốc hại hơn cả hổ", chuyện Dương Chấn làm quan không chịu nhận hối lộ : " Xin ngài cứ nhận cho. Bây giờ đêm khuya không ai biết". - " Trời biết đất biết, ông biết, tôi biết, sao lại bảo không ai biết?.."

Hối lộ, sao giống thới nay thế! Nhưng những người như Dương Chấn đời nay vẫn còn đấy chứ?
Còn cái chuyện " Đông Quách tiên sinh" thổi sáo nữa mới thật vui: ông ta không biết thổi sáo, nhưng cũng đứng lẫn vào giữa đám người thổi sáo để kiếm ăn... Về sau, vua mới lên không muốn nghe hòa tấu sáo như cũ, chỉ muốn nghe độc tấu, nên ông ta phải rút lui êm. Có khác gì khối cán bộ ta trong biên chế quan liêu bao cấp ngày nay đâu! Những chuyện như thế tuy là cổ xưa của nhân loại, lại giúp ta suy ngẫm chuyện đời nay.
Cổ học tinh hoa phong phú về đạo lý, trước khi phong phú về triết lý.
                   **** Hàng chục thế kỉ trước công nguyên, những đốm lửa của một trong những nền văn minh cổ đại của nhân loại đã cháy lên và bứng sáng suốt hàng chục thế kỉ.
Cho đến nay đã có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của nền văn minh đó. Một cách đơn giản nhất thì chúng ta có thế nói như thế này: trên cái đại lục mà người Trung Hoa xưa quan niệm là tất cả "thiên hạ" ấy, do sự phồn vinh của kinh tế, đã đẻ ra được một tầng lớp tri thức, những người chuyên hoạt động tinh thần.
Tầng lớp ấy hẳn là đông đảo lắm. Truyền thuyết nói Khổng Tử từng dạy trước sau đến ba nghìn học trò (chắc không nhiều đến như vậy!), số môn khách ở nhà Bình Nguyên Quân là mấy ngàn và ở Tắc Hạ một trung tâm nghiên cứu, có hàng trăm học giả nổi tiếng. " Trăm nhà" đã " đua tiếng" chung quanh bao nhiêu vấn đề của thời đại. Họ truyền bá học thuyết thông qua đào tạo học trò, họ tranh luận, họ đi lại sớm. Sở tới Tần để tìm người sử dụng mình. Trung Hoa cổ đại đã đánh thức và náo động bởi các nhà triết học, các nhà văn.
Nói là " trăm nhà" thực ra theo sự phân loại của Tư Mã Đàm, cha Tư Mã Thiên, thì có sáu nhà lớn; còn theo sự phân loại của Lưu Hâm, một đại học giả đời Hán, thì có mười nhà đại để thì có thể kể như chúng ta thường quen thuộc: Nho gia( phái của những học giả kể thừa văn hóa cổ). Đạo gia( các ẩn sĩ), Mặc gia (các hiệp sĩ) , Danh gia (các biện sĩ), Âm Dương gia (các nhà vũ trụ luận), Pháp gia (các nhà làm luật)....Còn Tiểu Thuyết gia những người chuyên "lượm lặt lời lẽ trong làng xóm, nơi đầu đường xó chợ" (Tiền Hán thư: Nghệ văn chí), xếp cuối cùng ( chữ tiều thuyết mà ta dùng để dịch chữ roman trong tiếng châu Âu là xuất xứ từ chữ này).
Các nhà ấy đều có mặt gần đủ trong cuốn sách nhỏ này.
Nhưng các soạn giả không chỉ tập họp các mẩu văn chung quanh các chư tử. Ngoài tản văn chư tử thì còn có tản văn lịch sử mà tiêu biểu là Tả truyện, Chiến quốc sách, Án Tử Xuân Thu, Lã Thị Xuân Thu... sau đó là Sử ký, sau đó nữa là một ít văn chương của Đường, Tống... Cái gốc là Tả truyện, Chiến quốc sách: " Văn chương đời sau, bao nhiêu thể loại đều có sẵn ở thời Chiến quốc cả rồi" (lời Chương Học Thành, đời Minh).
Thực ra thì sự tập họp ở đây không có hệ thống và cũng không có đầy đủ các diện mạo.
               ****  Trong các phần tử tạp của các nhà trong sách này, làm sao ta có thể nhận diện, phân biệt họ với các người đương thời, chủ yếu trên phương diện tư tưởng triết học?
Đọc câu chuyện về Đặng Tích ( Truyện 11) theo ngôn ngữ thông thường ngày nay, ta sẽ gọi là " thầy dùi" ,là anh "đón xóc nhọn hai đầu". Quả có thế. Ông ta làm thầy kiện: " việc lớn thì đòi một cái áo, việc nhỏ thì đòi một cái quần. Dân đưa áo, đưa quần để học kiện, không kể xiết. Lấy trái làm phải, lấy phải làm trái, phải trái không chừng, đến nỗi việc được hay không mỗi ngày mỗi đổi" (Lã thị xuân thu). Đó là những " biện giả" tiến thân của học phái triết học gọi là Danh gia: " Danh gia bới móc, ràng buộc khiến người ta không cãi ý họ được" (Sử Ký) " họ làm khốn cái biết của trăm nhà, làm cùng cái biện của mọi miệng" ( xem Trang Tử)- Danh và Thực, từ tương quan này đặt ra những vấn đề nghịch thường, nhưng những vấn để nghịch thường ấy, trong triết học là khởi điểm của thuyết tương đối rất sâu sắc biện chứng mà Huệ Thi, một nhà triết học, bạn thân của Trang Tử, chủ trương.
Thế là mỗi một câu chuyện trong sách này ẩn chứa một kho tàng triết học. Đọc câu chuyện con vua trốn vào hang, người nước Việt đem là ngải hun hang, bắt về làm vua, mà dùng dằng không chịu về; đọc câu chuyện Tái ông thất mã, chuyện Hứa Do rửa tai khi nghe Nghiêu nhường thiên hạ... ta biết đó là tinh thần của Đạo gia, của Lão Tử, Trang Tử... Những nhà triết học này, chủ trương "vô vi", thuận theo tự nhiên, tôn trọng quy luật thiên nhiên, và có một tinh thần biện chứng pháp đặc sắc Đạo gia sẽ đẻ ra Huyền học, Huyền học ảnh hưởng đến việc xác lập Thiền Tông; mà Thiền tông, Phật giáo thì có ảnh hưởng đến Hégelx, mà không có biện chứng pháp của Hégelx thì làm gì có Marx? Chuyện đời vòng là như vậy.
Còn những chuyện về "chính danh" về "nhân nghĩa" về "dân quý nhất" của Khổng Minh... thì dễ nhận ra. Đó là những chuyện trong Gia Ngữ, Tả Truyện, Thuyết Uyển... Trường phái triết học này quá quen thuộc với ta hàng ngàn năm nay, nhưng nay cũng phải " nhận diện" lại.
Trong sách cũng có vài truyênl về các nhà du thuyết, gọi là Trung hoàng gia, những người " nổi cơn giận thì chư hầu sợ, ngồi yên một chỗ thì thiên hạ thái bình" (Mạnh Tử). Một trường phái khác hay được nhắc là Mặc Tử, đối thủ của Khổng Tử, chủ trương "Kiêm, ái", mọi người trong thiên hạ, ai cũng yêu mến kẻ khác bằng nhau, không phân khác biệt. Đó là một tư tưởng có tính chất lý tưởng.
Tựu trung, về mặt triết học, sách Cổ học tinh hoa đem đến cho người đọc một vài khái niệm ban đâu. Sau buổi sơ giao này, ta sẽ có dịp đi sâu vào các trường phái triết học Trung Hoa cổ đại, những trường phái triết học ảnh hưởng hàng ngàn năm ở phương Đông. Đó là thời thơ ấu của nhân loại về mặt thời gian lịch sử nhưng lại là thời kỳ tráng niên lão thực về mặt triết học, văn chương. Đó là những người thầy đầu tiên, những nhà hiền triết đầu tiên, những nhà văn đầy thi hứng đầu tiên... mà nguồn suối của họ mấy nghìn năm vẫn dạt dào chảy vào biển lớn của nền văn minh nhân loại.

(Mai Quốc Liên)

4 Comments on "Cổ học tinh hoa - 243 câu chuyện giáo dục (Tập cuối = Tập 12)" »

  1. L6 Chaly said: Lai tiếp tục hoan nghinh chi ĐÀO THỊ XUÂN

    08/04/2010, at 17:28 [ Trả lời ]

    Tôi lại xin vô cùng cảm ơn chi ĐÀO THỊ XUÂN.

    Tôi là một trong những người mong được đọc những bài trong tập cuối (tập 12) của chi. Ước muôn của tôi đã đươc đáp ứng.

    Chị đã hoàn thành một viêc làm rất có ích, đã "khổ công làm việc nghĩa".

    Đây là một trong những nghĩa lớn. giúp cho lớp người trẻ thấy được một trong những cách có hiệu quả để "tiên học lễ hậu học văn". Đó là, đọc hết 243 bài "cổ học tinh hoa" này, suy gẫm, chắt lọc và "đưa' những điều hay, lẽ phải vào cuộc sống của mình.

  2. Lê Chaly said: Lai tiếp Tiêp tục hoan nghinh chi ĐÀO THỊ XUÂN

    08/04/2010, at 18:48 [ Trả lời ]

    Tôi lại xin vô cùng cảm ơn chi ĐÀO THỊ XUÂN.

    Tôi là một trong những người mong được đọc những bài trong tập cuối (tập 12) của chi. Ước muôn của tôi đã đươc đáp ứng.

    Chị đã hoàn thành một viêc làm rất có ích, đã "khổ công làm việc nghĩa".

    Đây là một trong những nghĩa lớn. giúp cho lớp người trẻ thấy được một trong những cách có hiệu quả để "tiên học lễ hậu học văn". Đó là, đọc hết 243 bài "cổ học tinh hoa" này, suy gẫm, chắt lọc và "đưa' những điều hay, lẽ phải vào cuộc sống của mình.

  3. xuan0606 said: Đào Thị Xuân trả lời

    11/04/2010, at 19:20 [ Trả lời ]

    Đào Thị Xuân rất vui khi có người đồng cảm với mình. Mong rằng sự sẻ chia ít ỏi này sẽ làm cho bạn bè hài lòng

  4. quehuong said:

    11/04/2010, at 20:07 [ Trả lời ]

    Cảm ơn chị Đào thị Xuân.
    Cách giáo huấn của người đời xưa luôn thâm thúy và tự nhiên mà nhẹ nhàng thấm sâu.
    Chúc chị và gia đình luôn an vui.

Thêm góp ý

Thêm góp ý
 authimage